Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Câu chuyện những ánh lửa



1. Từ trong bóng tối chập choạng của thời tiền sử, một ánh lửa loé lên! Con Người xuất hiện. Chấm dứt một thời đại vượn- người! Từ đó, ánh lửa chiếu sáng, dẫn dắt con người miệt mài đi qua các thời đại văn minh, cho tới ngày nay. Và từ đó, muôn năm ánh sáng, bóng tối cút đi!" (Puskin). Và kể từ đó, trong ký ức của con người luôn thường trực nỗi sợ hãi bóng tối của buổi hồng hoang ăn sống nuốt tươi khi chưa phát hiện ra lửa. Nỗi sợ đó còn lưu lại trong những câu chuyện đêm 30, đêm tối trời, với chập chờn những bóng ma xuất hiện. Nỗi sợ hãi đó lưu lại trong thế giới trẻ con, sợ bóng tối như là một nỗi ám ảnh bản năng. Trong ánh sáng văn minh tràn ngập ngày nay, thảng hoặc con người thức dậy một nỗi lo sợ vu vơ, "một ngày nào đó, ánh dương sẽ không còn, loài người chìm trong giá băng…"

         2. Cho đến cuối thế kỷ 19, thế kỷ của Anđecxen, của con người đã viết  những hoan ca cổ tích vĩ đại về "thắng lợi của ánh sáng trước bóng tối và của trái tim người trước cái ác", những cây thông Giáng sinh giữa đêm đông lạnh luôn được thắp sáng bằng hàng trăm ngọn nến. Những ngọn lửa được giữ suốt tuần lễ từ Noel cho đến ngày đầu năm mới. Lửa được giữ để truyền đi sự ấm áp, và để tri ân con người đã giữ lửa cho đời sau xuyên qua hàng triệu năm. Đầu thế kỷ 20, khi có ánh điện, những cây thông Noel mới thôi được thắp nến và thay bằng hằng trăm bóng đèn điện lấp lánh.

         3. Có một câu chuyện về ánh lửa nhỏ nhoi, một câu chuyện cổ Anđecxen viết cho trẻ em, nhưng đủ sức lay động bất cứ trái tim của người lớn nào. Một câu chuyện của mọi thời đại, cho đến chừng nào trái tim con người còn đập. Câu chuyện Em bé bán diêm. Mỗi năm, khi Giáng sinh về, ký ức ấu thơ của ta lại thổn thức về cái chết của em trong lạnh giá, và ám ảnh trong ta một nỗi hối tiếc, ân hận, dẫu rằng chúng ta vô can, nhưng ta lại không thể vô can, chỉ vì chúng ta là con người. Đêm Giáng sinh. Bóng tối. Lạnh lẽo. Tuyết rơi. Em bé chân trần, chân em đỏ ửng lên rồi tím bầm vì rét. Em đi bán diêm. Nhưng suốt ngày chưa bán được bao diêm nào. Tuyết rơi thành từng búp trên mái tóc em. Giáng sinh năm nào em còn ấm áp bên bà nội của em. Giờ đây bà không còn nữa. Em nép mình trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà. Một tạp dề đựng đầy diêm và trên tay còn cầm thêm một bao. Chà, giá em có thể rút một que diêm đánh lửa và hơ tay nhỉ? Sợ cha em đánh chết. Nhưng cuối cùng em cũng đánh liều rút một que. Ôi, ánh sáng mới kỳ diệu làm sao! Hiện ra một lò sưởi ấm áp. Que thứ hai, hiện ra một phòng ăn ấm áp. Que thứ ba, hiện ra một cây thông Noel với hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi. Nhưng hễ diêm tắt thì mọi thứ lại biến mất, trước mắt em lại là bức tường tối tăm lạnh lẽo. Một que diêm tiếp theo, bà em hiện ra. "Bà ơi, cho cháu đi với, cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây thông Noel ban nãy, nhưng bà đừng bỏ cháu ở nơi này." Thế là em cuống cuồng quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Bà cầm tay em. Hai bà cháu bay lên, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ họ nữa.

         4. Sáng hôm sau, người ta thấy một em bé chết bên góc tường, môi đang cười. Em nằm chết giữa nhiều bao diêm, có một bao đã đốt hết. Người ta nghĩ chắc là em đốt cho ấm. Không ai biết là em đốt để được nhìn thấy bà. Để được kết nối với tình yêu thương của bà. ánh lửa còn có một sự mạng cao cả hơn là sưởi ấm, nó thắp lên yêu thương và hy vọng. ánh sáng đối lập với bóng tối mù loà niềm tin.

         5. Bạn đọc Hoa Học Trò thân mến ạ, xoay ngược trái tim của em lên, sẽ có hình ngọn lửa.


(Trò chuyện đầu tuần - Đoàn Công Lê Huy)

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Bắt đầu từ toạ độ của nước Việt (Đoàn Công Lê Huy)


  
  1. Hình như ngày xưa thầy cô rất siêu. Tôi có cô giáo dạy toán vẽ hình tròn không bao giờ dùng compa. Tôi có thầy dạy địa lý có thể nhắm mắt vẽ bản đồ Việt Nam lên bảng đen. Sau đó thầy còn cho chúng tôi kiểm tra "trình độ" bằng cách áp vào bảng một khung hình chữ nhật chia ô vuông là những sợi thép biểu diễn kinh độ và vĩ độ của Trái Đất. Trùng khít!
    2. Giống như em muốn vẽ chân dung ai đó, em chia ô vuông lên bức ảnh. Rồi em chia ô vuông tương tự lên giấy em vẽ theo tỉ lệ xích tuỳ chọn. Cứ thế mà phóng theo những toạ độ ngang và dọc của từng ô. Cũng như vẽ đồ thị hàm số, em phải xác định các điểm trong hệ toạ độ kinh tuyến, rồi nối thành một hình kỷ hà, chưa cần uốn lượn vội, là đã có ngay một bản đồ Việt Nam tượng trưng. Dẫu tượng trưng, em cũng chớ quên bất cứ một giọt nước, giọt đất nào đấy nhé. Tôi gọi là "giọt đất" vì máu và mồ hôi của tổ tiên mình đổ vào đó rất nhiều.
    3. Bạn tôi không thể giỏi nhớ. Tôi có thể không đủ hoa tay. Bản đồ nước Việt đôi khi vẽ ra giống củ khoai củ sắn. Nhưng, nếu vẽ trong hệ toạ độ thì bao giờ cũng đúng, bao giờ cũng đủ. Đủ da thịt, đủ hình hài. Và còn đủ cả tình cảm. Chẳng thế mà dù thời đi học đã xa rồi nhưng tôi không bao giờ quên hệ toạ độ của đất nước tôi. Này là khi nghe tin bão ở toạ độ 16 độ vĩ bắc và 109 độ kinh đông là biết ngay khúc ruột Đà Nẵng - Quảng Ngãi đang oằn mình chịu đựng. Này là khi nghe thả hoa dòng Thạch Hãn là biết ngay hoa đang trôi trên vĩ tuyến 17, để hàn gắn nhát cắt Quảng Trị làm máu chảy suốt 20 năm ròng.
    4. Năm ấy chú tôi phải canh biên giới không ăn Tết ở nhà là biết ngay ở 23 độ vĩ bắc có tên trộm đất đang rình mò. Và mới hôm qua thôi, ngày 12 tháng 9, Bộ Ngoại Giao Việt Nam vừa lên tiếng ngăn chặn Đài Loan xây dựng hạ tầng trên quần đảo Trường Sa là tôi biết ngay ở 111,5 độ kinh đông đang có kẻ dòm dỏ ngó oi.
     5. Có một di tích đã được xếp hạng quốc gia ở Lý Sơn, Quảng Ngãi. Nơi đây thờ những hùng binh đã hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ hơn 300 năm trước. Có một công dân yêu nước ở TP.HCM. Ông đã để ra 50 năm của cuộc đời sưu tầm hơn 3000 tấm bản đồ của nước Việt. Ông treo như treo tranh cổ vật quý giá. Để thấy bước đi của người Việt cổ, để hiểu đc lối sống, tâm hồn, và lòng can đảm của tổ tiên. Và những tấm địa đồ cổ của ông cũng giúp cho Bộ Ngoại Giao làm căn cứ xác định chủ quyền của đất nước. Đó là nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, năm nay đã ngoài 80.
    6. Và cũng có những người Việt Vô tình, gọi Hoàng Sa và Trường Sa là Tây Sa và Nam Sa theo cách gọi của hệ quy chiếu khác. Và em lên mạng mà xem, có quá nhiều người trẻ vô tình, quá nhiều trang web vô tâm, vẽ họa đồ Việt Nam không có 2 quần đảo này. Bản đồ nước Việt lại dùng bản tiếng Anh, lại gọi biển Đông là biển Nam Trung Hoa (South China Sea ). Cứ thế này thì một trăm năm sau còn không những Nguyễn Đình Đầu?
     7. Tôi biết, có nhiều cách để vẽ bản đồ Việt Nam trên trường thế giới. Bản đồ chính trị Việt Nam, bản đồ kinh tế Việt Nam, bản đồ văn hoá, văn minh Việt Nam...Nhưng cơ bản và trước hết vẫn phải là bản đồ nước Việt Nam, với đầy đủ đất và nước của tổ tiên mình để lại.

(Trò chuyện đầu tuần - Đoàn Công Huynh)

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

‘Eric Cantona - ông vua của những vị vua’


Tên đầy đủ
Eric Daniel Pierre Cantona
Ngày sinh
Nơi sinh
Chiều cao
6 ft 2 in (1,88 m)
Vị trí
Tiền đạo (đã giải nghệ)
CLB trẻ
?–1981
SO Les Caillols
CLB chuyên nghiệp*
Năm
CLB
Số trận
(bàn thắng)
1983–1988
82
(23)
1985–1986
Martigues (cho mượn)
15
(4)
1988–1991
40
(13)
1989
Bordeaux (cho mượn)
11
(6)
1989–1990
Montpellier (cho mượn)
33
(10)
1991
16
(2)
1992
28
(9)
1992–1997
144
(64)
Tổng cộng

369
(131)
Đội tuyển quốc gia
1987–1995
45
(20[1])
Huấn luyện
2005–
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).
   
Ở M.U, Cantona đã giành 4 chức vô địch Premier League, 2 FA Cup, 3 Siêu cúp Anh. Trước khi gia nhập Quỷ Đỏ, Cantona cũng giành một danh hiệu vô địch giải hạng nhất cũ (hạng đấu cao nhất nước Anh khi đó) cùng Leeds United. 
       Kỷ nguyên của Alex Ferguson được đánh giá là một trong những kỷ nguyên huy hoàng nhất trong lịch sử Manchester United, và người tạo dựng, đặt nền móng cho kỷ nguyên đó không ai khác là Eric Cantona. “Le Roi” (Hoàng đế).“Le Dieu” (Chúa trời). Hay đơn giản, nhưng ai cũng nhận ra, Eric. Dù cho bạn muốn gọi Monsieuer Cantona là gì, 4 năm rưỡi của tiền đạo người Pháp ở Old Trafford đã biến anh thành một huyền thoại vĩnh cữu, số 7 huyền thoại, “King” Eric bất tử tại nhà hát của những giấc mơ, tượng đài lớn nhất trong lòng người hâm mộ áo đỏ trong suốt nửa thế kỷ Ferguson.
       Thi đấu cho MU gần 5 năm, cầu thủ có biệt danh “Kẻ phiến loạn” với phong cách khó hiểu, đôi khi tự phụ, kiêu căng - và thật sự không ít lần anh gặp rắc rối vì tính này - đã mang lại cho “Nhà hát của những giấc mơ” một làn gió mới mà theo như HLV Ferguson nói: “Eric đã mang đến một khí thế mới mà chúng tôi đã không có trước đó. Chúng tôi vẫn đang tiến lên nhưng nếu có anh chắc chắn quá trình đó sé nhanh hơn. Anh là người phi thường, và Old Trafford thành công như vậy là nhờ anh.” Cũng với những đóng góp đó, năm 2001 anh được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ của Manchester United.

     
         Cuộc gặp gỡ định mệnh

`        Chiếc áo số 7 với cổ áo bẻ lên thẳng đứng, vẻ ngoài ngang tàng, đôi mắt lúc nào cũng như ăn tươi nuốt sống đối thủ và dáng đứng luôn thẳng lưng trên sân bóng, Eric Cantona có lẽ là được sinh ra để chơi bóng cho M.U.
         Bị coi là đứa con lạc loài của bóng đá Pháp, bất chấp danh hiệu vô địch quốc gia với Olympique Marseille vào năm 1991 và có 45 trận chơi cho đội tuyển áo lam, Cantona tự coi là anh đã nghỉ thi đấu khi mới 25 tuổi và vượt eo biển Manche sau 8 năm chơi bóng tại Pháp. Buổi thử việc của anh tại Sheffield Wednesday đã thu hút sự chú ý từ HLV Leeds Howard Wilkinson trong trận đấu giao hữu với CLB này. Ngay sau khi chuyển đến Leeds United, anh đã cùng đội bóng này giành chức vô địch mùa giải 1991/1992.
         Cantona ngay lập tức gây được ấn tượng ở Yorkshire và ghi một hat-trick vào lưới Liverpool trong trận tranh Charity Shield mở màn mùa giải 1992-1993. Alex Ferguson ngay lập tức hỏi Leeds về khả năng mua lại cầu thủ người Pháp và ông nhận được cái gật đầu vào tháng 12. Cantona đã chuyển về chơi cho CLB Manchester United với 1 bản hợp đồng được kí trong thời gian kỉ lục: 3 ngày, kể từ khi phía Manchester đưa ra đề nghị tới khi hợp đồng hoàn tất. Một thỏa thuận trị giá 1,2 triệu bảng, cái giá có lẽ là rẻ nhất trong lịch sử chuyển nhượng của M.U, được ký kết nhanh chóng, và Cantona có mặt ở Old Trafford. Và chính tại nơi đây 1 huyền thoại về 1 ông vua người Pháp trên đất Anh đã đuợc viết nên.
         Bốn mùa giải rưỡi sau đó chứng kiến cầu thủ người Pháp đóng dấu tên anh vĩnh viễn lên những trang vàng của M.U. Trái tim và tâm hồn anh như hai con chiến mã thắng vào cỗ xe Old Trafford. Những tuyên bố như của một vị tiên tri sắp dẫn dắt bộ tộc mình đến vinh quang, sự ngang tàng không thể nhầm lẫn và những bàn thắng làm rung chuyển cầu trường, tất cả khiến các CĐV áo đỏ lâu đời không khỏi nhớ lại George Best 2 thập kỷ trước. Thực vậy, nếu như có cầu thủ nào sánh được với Ferguson về ảnh hưởng lên các CĐV trong một phần tư thế kỷ qua, thì đó chỉ có thể là Cantona, và anh làm điều đó chỉ trong bốn năm rưỡi.
 Thủ lĩnh, và sứ giả của bầu trời...
         Chân sút người Pháp, ngay trong mùa giải đầu tiên, cho thấy anh chính là mảnh ghép còn thiếu của một nhà vô địch. 9 bàn thắng trong 22 trận ở giải Ngoại hạng của anh giúp M.U giành về danh hiệu vô địch quốc gia đầu tiên dưới thời Ferguson, trong mùa giải đầu tiên Premier League ra mắt.
         Manchester United là một câu lạc bộ thuần Anh, lối đá chủ yếu dựa trên tốc độ, sức mạnh và thể lực, Cantona đến đây như là một luồng gió mới thổi vào lối chơi của toàn đội. Kỹ thuật và phong cách nghệ sĩ của anh là một cái gì đó rất riêng biệt với phần còn lại của United. Anh là tác giả của muôn vàn những tuyệt tác sân cỏ, anh là người sáng tác ra biết bao ca khúc đầy bay bổng và lãng mạn tại Nhà hát của những giấc mơ. Khi anh hiện diện ở trên sân thì ma lực tỏa ra từ anh là vô cùng lớn, anh như một thỏi nam châm thu hút sự chú ý của các Fan hâm mộ. Chỉ khi King Eric có trên sân những khúc ca chiến thắng mới được vang lên, chỉ khi King Eric chạm bóng thì trận đấu mới có được cái vẻ thi vị và đầy màu sắc. Cantona là đại diện cho lối chơi đầy nghệ thuật, đôi chân ma thuật của anh đã thôi miên biết bao hòn đá tảng thời đó của nước Anh, phong cách nghệ sĩ của anh đã mê hoặc biết bao trái tim của các khán giả cuồng nhiệt với từng phút giây nóng bỏng của môn thể thao vua.
         Có thể nói Cantona là một trong những cầu thủ có kỹ năng không chế bóng đặc sắc nhất của bóng đá thế giới. Để nói lên khả năng cầm giữ, kiểm soát trái bóng của Cantona thì chữ xuất sắc là chưa đủ để lột tả hết. Tinh tế và nhẹ nhàng, mềm mại và uyển chuyển, đó là những phẩm chất đã tạo nên một trong những số 7 kiệt xuất nhất trong lịch sử đội bóng Manchester United. Chẳng ai có thể quên được những pha xử lý vô cùng khéo léo trong vòng vây của muôn vàn cầu thủ đối phương hay những cú dứt điểm mà không ai có thể lường trước được quỹ đạo kỳ lạ của nó được Cantona vẽ lên. Hầu hết những bàn thắng của Eric Cantona đều là các tuyệt tác, sống vì cái đẹp, chơi bóng vì cái đẹp vì niềm đam mê, đó chính là phương châm chơi bóng của nghệ sĩ sân cỏ này.
         Ngay từ khi đặt chân đến đội bóng mới này Cantona đã có được sự kính nể của các người đồng nghiệp. Với tài năng và tố chất của mình thì Cantona nhanh chóng trở thành trung tâm của đội bóng. Mọi đường lên bóng, mọi kế hoạch tấn công của toàn đội đều phải thông qua đôi chân của số 7 này. Eric là một nghệ sĩ sân cỏ thứ thiệt nhưng anh cũng sẵn sàng là chỗ dựa tinh thần cho toàn đội với những lời la hét, quát nạt ầm ĩ ở trên sân. Không một cá nhân nào được phép uể oải khi mà có sự chỉ huy của Cantona, anh là nguồn cổ vũ tinh thần mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm. Tinh thần chiến đấu của Quỷ đỏ luôn được đẩy lên mức cao nhất khi số 7 có mặt ở trên sân, Cantona là đại diện, là biểu tượng cho ý chí chiến đấu không ngừng nghỉ của United. Cantona sẵn sàng va chạm, sẵn sàng chiến đấu với bất cứ thứ gì gây bất lợi cho đội quân áo đỏ.
         Với anh trong đội hình, M.U chỉ duy nhất một lần thất bại trong bốn chiến dịch chinh phục chiếc cúp vô địch quốc gia sau đó. Cantona là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của CLB trong 2 mùa, và đứng thứ hai trong một mùa nữa. Nhưng không chỉ những tố chất kỹ thuật, trí tưởng tượng siêu phàm và bản năng sát thủ khiến Cantona trở thành một huyền thoại của Old Trafford. Anh giống như một vị sứ giả truyền tin của Chúa trời trong mắt nhiều CĐV áo đỏ. Cantona dẫn dắt bằng cảm hứng, phong cách chỉ có ở riêng anh và sự ngang ngạnh đầy chất Pháp như Jean Valjean. Anh xây dựng nên một mối quan hệ ba bên, vô hình, nhưng chắc chắn, giữa bản thân anh, các đồng đội và những CĐV. Cantona mê hoặc mọi người yêu màu áo đỏ, bao gồm cả Ferguson.
         Thậm chí ngay cả khi LĐBĐ Anh (FA) tuyên bố lệnh cấm đá 9 tháng với anh trong mùa giải 1994-1995 sau cú kung fu nổi tiếng vào một CĐV Crystal Palace - sau này được xác định danh tính là Matthew Simmons, ở Selhurst Park, HLV người Scotland vẫn bảo vệ anh và với hầu hết những người hâm mộ M.U, anh chẳng hề làm gì sai. Cantona cũng thực hiện đầy đủ 120 giờ lao động công ích kèm theo án phạt không chút than phiền. Trở lại sau án phạt Cantona đã trở thành 1 con người khác hẳn, ít nói và điềm tĩnh hơn, anh đã không còn phản ứng với những quyết định của trọng tài dù đôi khi, những quyết định luôn mang lại cho anh những thua thiệt, Và tất nhiên, anh ghi bàn ngay khi trở lại, trước đối thủ đáng ghét nhất Liverpool vào tháng 10, với một quả phạt đền giúp lấy lại một điểm ở Old Trafford. Chắc hẳn không ai có thể quên đuợc mùa giải khi anh quay lại sau án treo giò đó, khi đó Newcaslte duới bàn tay dẫn dắt kì diệu của HLV Kevin Keegan đang bỏ xa MU với 13 điểm trong khi chỉ còn 9 vòng đấu nữa là mùa bóng kết thúc, chức vô địch tưởng như đã nằm trọn trong tay họ, thế nhưng dưới sự dẫn dắt của Cantona, từng bước từng bước Manchester dần đuổi kịp, và vào cái ngày cuối cùng của mùa bóng Manchester đã kịp vượt qua Newcastle để giành ngôi vô địch, không gì vui hơn thế.
         Hand of Midas
         Với Cantona là nhạc trưởng và những tài năng mới nổi như David Beckham và Ryan Giggs, cùng Roy Keane cầm trịch ở giữa sân, M.U là không thể đánh bại trong mùa giải 1995-1996. Cantona tất nhiên là ngôi sao sáng nhất với 19 bàn ở mọi giải đấu, bao gồm việc ghi bàn trong 6 trận liên tiếp ở Premier League vào tháng 3 và tháng 4 khi M.U đối mặt với thách thức từ Newcastle. Và lại là Cantona một lần nữa, trở thành nhân vật chính trong các trận đấu lớn, khi anh ghi bàn ở Wembley để hạ gục Liverpool trong trận chung kết Cúp FA và mang về cú đúp thứ hai trong 3 mùa giải cho M.U. Mùa giải đó là điểm nhấn của Cantona ở Old Trafford.
         Có Cantona trong tay Manchester United đã có được những vinh quang mà tưởng như chẳng thể nào tìm lại được nữa. Người khổng lồ đang ngủ say của nước Anh, thế lực một thời của xứ sở sương mù đã được đánh thức dưới bàn tay của King Eric. Có King Eric là có thành công, King Eric chạm tay vào thứ gì là thứ đó hóa vàng, đó là những lời nói để diễn tả những công lao mà Eric Cantona đã lập được cho Quỷ đỏ của thành Manchester. Manchester United đã giành được 4 danh hiệu Premier League trong 5 năm Cantona góp mặt ở đây. Cantona đã giúp cho màu đỏ của thành Manchester phủ kín giải ngoại hạng nơi mà tưởng như sự thống trị của Liverpool là không thể bị phá bỏ. Lần đầu tiên sau 20 năm cư dân của thành phố Manchester mới được tân hưởng niềm vui chiến thắng, lần đầu tiên champagne mới được mở trên thảm cỏ xanh mướt tại thánh đường Old Trafford. Không gì có thể sánh được với tầm ảnh hưởng của Eric Cantona tại thành phố công nghiệp này, họ tôn thờ anh, ngưỡng mộ anh bằng một tấm lòng chân thành nhất. Điều đó là hoàn toàn xứng đáng khi mà chính nhờ những sự tỏa sáng của Cantona mà Manchester United mới tìm được cái ngai vàng mà mình đã từng phế truất suốt hàng chục năm.
         Vào cuối mùa giải 1996-1997, M.U và Cantona bỏ túi thêm một chức vô địch Premier League nữa, nhưng họ phải nếm trải sự thất vọng tại châu Âu khi bị loại ở bán kết Cúp C1. Khá đột ngột, anh tuyên bố treo giày vào cuối mùa (18/05/1997). Ở tuổi 33, Cantona chắc chắn còn có thể chơi bóng đỉnh cao thêm vài năm nữa, nhưng anh vẫn quyết định chia tay bóng đá, có lẽ bởi nó chẳng còn ý nghĩa gì nữa nếu anh phải rời Old Trafford. Cantona không bao giờ có được chức vô địch C1/Champions League cùng M.U, nhưng như người ta vẫn nói, tình chỉ đẹp khi còn dang dở, và khó có mối tình nào đẹp như Cantona-M.U.
         Anh là biểu tượng vĩnh hằng của Câu lạc bộ, tất cả các CĐV United đều coi King Eric của họ là vĩ đại nhất, là xuất sắc nhất, không một ai có thể vượt qua cái bóng của Cantona. Trước cũng vậy, bây giờ cũng vậy, tương lai cũng vậy, tên tuổi của Eric Cantona sẽ mãi mãi được các cổ động viên ghi nhớ. Phòng truyền thống của câu lạc bộ sẽ đặt cái tên của anh lên trên tất cả, các khán đài của Nhà hát của những giấc mơ sẽ hát mãi những khúc ca về vị vua lỗi lạc của họ ‘Eric Cantona - ông vua của những vị vua’.
         Trận đấu chia tay của Cantona với CLB Manchester United được tổ chức vào 18/08/1998 trong trận đấu tưởng niệm sự kiện vụ tai nạn máy bay Munich 1958 với sự chứng kiến của 56.000 VĐV, giữa đội hình 1 của Manchester United và các cầu thủ nổi tiếng đã từng chơi cho Manchester United (Robson, Hughes...), các ngôi sao của đội tuyển Pháp (Papin, Blanc...). Hiệp 1, Eric chơi trong đội hình các ngôi sao. Hiệp 2, Eric chơi cho đội hình của Manchester United. Tỉ số trận đấu là 8-4 nghiêng về đội Manchester United.
Trong màu áo Đội tuyển Pháp





Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Cây lược vàng - Thần dược quý hơn vàng


Địa chỉ download: 


MỘT ĐỀ TÀI GIÀU Ý TƯỞNG NHÂN VĂN
VÀ THIẾT THỰC TRONG ĐỜI SỐNG

       (Trích phát biểu của Nhà báo Kim Quốc Hoa, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi tại Hội nghị Thẩm định đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Lược vàng" tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam ngày 28-5-2012).
       Với tư cách là một nhà báo, thay mặt Báo Người cao tuổi (Hội Người cao tuổi Việt Nam), tôi cảm ơn lãnh đạo Viện, đặc biệt biết ơn sâu sắc Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đã quan tâm đến một việc cao cả và ý tưởng rất nhân văn này.
       Sau đây, cho phép tôi được phản ánh về một trào lưu khá sôi động đối với tầng lớp người cao tuổi hiện nay đang trồng, khai thác, chế biến sử dụng cây Lược vàng theo cách dân gian, tự phát mà suốt mấy thập kỉ qua, chưa có cây dược liệu nào lại được quan tâm đặc biệt đến thế.
       Từ cuối năm 2007, cùng với nhiều cơ quan báo chí khác, Báo Người cao tuổi đăng nhiều bài nói về tác dụng chữa bệnh của cây Lược vàng, trong đó nổi bật là Trung tâm Cứu trợ trẻ em tàn tật thành phố Thanh Hóa thuộc Câu lạc bộ Hàm Rồng, ứng dụng cây Lược vàng vào việc chữa bệnh có hiệu quả thì nhiều địa phương, nhiều gia đình phát triển trồng cây này. Thời điểm đó, nhiều người phải mua với giá từ 40.000 đồng đến 70.000 đồng một cây giống. Bỗng nhiên, thời gian sau cũng trên báo chí công bố Tiến sĩ Trịnh Thị Điệp làm thí nghiệm chết chuột do tiêm dung dịch độc tố chiết xuất từ Lược vàng thì người ta bảo nhau phá tan hoang không thương tiếc cây Lược vàng. Chỉ một số người rất tiếc vẫn giữ lại để nghe ngóng, chờ đợi.
       Báo Người cao tuổi không từ bỏ ý định phải tiếp tục phổ cập giá trị của cây Lược vàng. Một số bạn đọc đến Tòa soạn cung cấp thông tin về tác dụng chữa bệnh bất ngờ của cây Lược vàng mà trong thực tế các cụ khỏi nhiều bệnh lại không có phản ứng phụ. Với hàng loạt nhân chứng sống là người thực, việc thực trong cộng đồng dân cư, chúng tôi thấy cần thiết phải tiếp tục tuyên truyền những kết quả trong dân gian để ai có nhu cầu thiết thực cứ mạnh dạn áp dụng. Từ đó đến nay, gần 5 năm qua, Báo Người cao tuổi liên tục đăng tải những bài viết mang thông điệp dưới dạng thư bạn đọc.
       Với khoảng gần 600 người viết thư và tin, bài cho báo nói về tác dụng chữa bệnh của cây Lược vàng, Báo Người cao tuổi đã đăng gần 250 bài, tin của các nhân chứng sống. Họ đã sử dụng cây Lược vàng bằng các phương pháp hết sức đơn giản, dân dã:
       - Nhai lá, nuốt cả nước lẫn bã;
       - Giã nát để đắp vết thương, xoa bóp, dịt băng cầm máu, làm tan máu tụ, bầm tím;
       - Dùng lá, thân cây, tay vòi và gốc rễ ngâm rượu trắng;
       - Phơi khô lá và cuộng pha nước sôi, nấu nước uống như uống nước chè;
       - Nấu thành canh rau trong bữa ăn;
       - Nấu cao, sau đó pha loãng uống, bôi ngoài da;
       - Xay thành nước sinh tố (pha thêm đường, sữa, mật ong) uống.
       Bằng các phương pháp dân gian, tự phát ấy, thực tiễn sinh động như mách bảo người dân nghèo lựa chọn theo phương châm "tự làm bác sĩ" (chuyên mục do Báo Người cao tuổi đặt cho trang Chăm sóc sức khỏe). Bà con đã không hài lòng với kết quả thí nghiệm chết chuột, thôi thúc chúng tôi (Báo Người cao tuổi) vào cuộc, tiếp tục tuyên truyền về cây Lược vàng, đưa thông tin khách quan từ bạn đọc phải là người thật việc thật, người có bệnh thật, sử dụng Lược vàng thật, khỏi bệnh (hoặc giảm nhẹ) bệnh thật, có địa chỉ thật rõ ràng, số điện thoại thật của cá nhân để kiểm chứng, xác minh.
       Quả nhiên, đối tượng chủ yếu sử dụng cây Lược vàng để chữa bệnh (hầu hết là người cao tuổi vốn có nhiều bệnh mạn tính) sau đó mới ứng dụng rộng rãi trong gia đình, trong địa phương. Theo sách "Cây Lược vàng chống lại 100 bệnh" của A-lếch-xăng-đơ-rơ Cô-rơ-đét-xki (Nga) xuất bản năm 2004 nói cây Lược vàng với nhiều hoạt tính sinh học độc đáo trở thành "Thần dược", được mệnh danh là "Thầy thuốc trứ danh". Còn qua thực tiễn ở Việt Nam chưa thống kê được, nhưng chúng tôi cho rằng phải có đến hàng triệu người đã trồng, sử dụng Lược vàng vào việc chữa bệnh, làm cây cảnh trong gia đình, cộng đồng khu dân cư với sự kì diệu của nó về khả năng chống ô-xi hóa và miễn dịch.
       Qua thư bạn đọc, các loại bệnh mà người nghèo đã dùng cây Lược vàng để chữa khỏi (hoặc giảm nhẹ) là viêm răng lợi, sâu răng, viêm họng, viêm mũi dị ứng, viêm xoang, ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen, viêm tai giữa, thối tai, băng huyết, cầm máu vết thương, bỏng, đau đầu mất ngủ, viêm bờ mi mắt, đau mắt đỏ, đục thủy tinh thể, nấm da, vẩy nến toàn thân, ghẻ, nước ăn chân, ếch-dê-ma, mẩn ngứa, zô-na, hạch mu bàn chân, tổ đỉa, mụn cóc, hóc xương, đau bụng, đi ngoài, đau dạ dày, hành tá tràng, đại tràng, trĩ nội, trĩ ngoại, táo bón, sỏi mật, đau lưng, đau vai, thần kinh tọa, thoái hóa đốt sống cổ, gout, thấp khớp, thoát vị đĩa đệm, viêm cột sống, hẹp động mạch vành, rối loạn tiền đình, loạn nhịp tim, tai biến mạch máu não, đái buốt, tiền liệt tuyến, u xơ tiền liệt tuyến, đái đêm nhiều, sỏi thận, ung thư vòm họng, ung thư vú, ung thư lá lách, ung thư dạ dày, ong đốt và bọ cạp cắn đã hôn mê, chó cắn, v.v... Ngoài ra, nhiều người còn dùng Lược vàng chữa bệnh, dịch cho trâu, bò, chó, lợn, gà, vịt, chim cảnh có kết quả tốt. Có người dùng làm sạch dầu mỡ, tẩy vết bẩn trên bề mặt da v.v...
       Những bệnh trên đây hoàn toàn do bạn đọc thông báo. Trong rất nhiều trường hợp, chúng tôi kiểm tra lại hoặc có thầy thuốc như GS.TS Hoàng Tích Huyền (Đại học Y Hà Nội) trực tiếp đi kiểm chứng, thừa nhận đúng như vậy, thậm chí nhiều kết quả bất ngờ, người bệnh chưa diễn tả đầy đủ, cụ thể hết được.
       Những kết quả trong thực tiễn trên đây chắc chắn góp phần đáng kể giảm tải cho các bệnh viện, người bệnh chi phí không đáng kể mà vẫn bảo đảm an toàn, an sinh xã hội.
       Cũng trong nhiều thư gửi về, nhiều người cho biết dùng Lược vàng cùng đồng thời trong một thời gian khỏi 3, 4, 5 loại bệnh mạn tính (viêm họng, răng lợi, dạ dày, táo bón, tiểu đêm, v.v...) và nhiều gia đình, mọi thành viên đều ăn lá Lược vàng mà chưa có trường hợp nào thông tin có tác dụng phụ.
       Đọc loạt bài đăng trên báo, người thiếu niềm tin cảm thấy chuyện như bịa, sao có thể kì diệu đến thế, lạ lùng đến thế nhưng xin thưa đó là sự thật, thật như đếm của những người bệnh phản ánh trung thực, khách quan vì qua xác minh, qua chứng nhận của bác sĩ trong những trường hợp xét nghiệm lại đều minh chứng cho hiện thực sinh động đó.
       Rõ ràng, cây Lược vàng có sức sống kì diệu, tác nhân kì diệu và rất lạ. Chắc chắn, Lược vàng có những thành phần hóa học và hoạt tính sinh học, kháng sinh đặc biệt, có khả năng thích ứng với cơ địa của mọi người. Một số người Việt ở Nga về nước cho biết, bên ấy có nhiều loại dược phẩm sản xuất từ cây Lược vàng bán rộng rãi, nhất là dạng kem bôi ngoài da.
       Ở ta, cũng đã có những nhóm nghiên cứu cây Lược vàng như Viện Dược liệu (Bộ Y tế), Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Y khoa, Hội Liên hiệp Khoa học Kĩ thuật Thanh Hóa và CLB Hàm Rồng, Đại học Y Thái Nguyên, v.v...
       Về trồng đại trà đã có Công ty Cổ phần Đông dược Hải Thượng (Bắc Giang) do bà Thân Thị Minh Hạnh làm Giám đốc, đã trồng tới 2,5 ha ở xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên từ 5-6 năm nay, một sào Bắc Bộ đạt 1.200 kg tươi, một năm thu 100 triệu đồng/sào. Công ty còn giao cho nhiều hộ gia đình trồng hái và Công ty đứng ra thu mua.
       Báo Người cao tuổi cũng nhận được nhiều thư kiến nghị của bạn đọc, có cụ trách cứ Bộ Y tế và các nhà khoa học đứng ngoài cuộc. Có thư yêu cầu Tổng Biên tập phải làm việc với Bộ Y tế để đề xuất nghiên cứu về cây Lược vàng.
       Ông Nguyễn Hiền Nhân ở Hà Nội viết: "Đã đến lúc nhân dân mong Bộ Y tế và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam "thực sự vì dân", huy động những nhà khoa học như Sinh hóa, Dược học, Y học Cổ truyền, v.v... cùng lực lượng khác nghiên cứu các đề tài nhánh của đề tài tổng hợp toàn diện về cây Lược vàng, giúp nhân dân cùng tham gia thể nghiệm trên "đám đông" hiếm có, với tinh thần tự nguyện cao, ít tốn kém mà Báo Người cao tuổi đang làm "như một đề tài quốc gia"" với sự tham gia của nhân dân. Từ đó, mở ra giai đoạn mới "các nhà khoa học cùng với nhân dân" để thực sự vì dân, nhất là dành cho người nghèo”.
       Ông Nguyễn Đức Thuần, nhà giáo nghỉ hưu ở 18T1/1705 khu Đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính, Hà Nội viết: "Thực tiễn cuộc chiến chống chọi với bệnh tật để giành lấy sự sống bình yên cho mỗi thành viên trong cộng đồng và mách bảo người dân” “Phải tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”; Hãy "tự làm bác sĩ". Họ không còn thời gian để chờ đến khi công bố kết quả nghiên cứu về hiệu quả trị bệnh của ngành y, rồi mới sử dụng Lược vàng chữa bệnh, người dân tự chữa bệnh bằng thảo dược Lược vàng theo quy luật sinh tồn rất tự nhiên và cũng là truyền thống của dân tộc ta "Nam dược trị Nam nhân".
       Ông Phan Xuân Dân ở xã Hòa Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An viết: "Xưa nay thực tiễn vẫn là chân lí, là trọng tài, sáng suốt để kiểm chứng mọi công trình nghiên cứu. Cả nước ta đang có hàng vạn, hàng vạn người trồng và sử dụng cây Lược vàng để làm thuốc. Trong lúc chờ đợi kết quả nghiên cứu, theo tôi người già có thể hoàn toàn yên tâm dùng Lược vàng chữa bệnh theo kinh nghiệm của rất nhiều người sử dụng đã tự chữa khỏi bệnh".
       Cụ Nguyễn Văn Tiên, ở TK 3, thị trấn Yên Châu, Sơn La viết: "Báo Người cao tuổi ngày 3-3-3012 có đăng tải bài Thường trực Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam có văn bản gửi Giáo sư Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đề nghị nghiên cứu cây Lược vàng mà Báo Người cao tuổi và ông Tổng Biên tập đã dày công sưu tập, tôi rất mừng. Tôi xúc động, tin tưởng và mong đợi một ngày sớm nhất công trình nghiên cứu thành công cây Lược vàng thực sự quý hơn vàng và trở thành người bạn thân thiết của người nghèo".
       Báo Người cao tuổi, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam kính mong Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam kết hợp với ngành Y tế, tổ chức triển khai thành công đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Lược vàng".

Tầm nhìn Lê Duẩn



Lê Duẩn (19071986) là Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ1960 đến 1976Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1976 đến 1986. Ông là nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam có tổng thời gian tại vị lâu nhất với 25 năm, 303 ngày.

Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907, tại làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Sau đó ông theo gia đình về sinh sống tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành cùng huyện, ở bên kia dòng sông Thạch Hãn. Khu lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn hiện nay được xây dựng tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành.
Tháng 5 năm 1926, ông làm ở Sở Hỏa xa Đà Nẵng.
Năm 1927, nhân viên thư ký đề pô Sở Hỏa xa Đông Dương tại Hà Nội.
Năm 1928, ông tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng.
Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1931, ông là Ủy viên Ban tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ.
Ngày 20 tháng 4 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù, bị giam ở các nhà tù Hỏa LòSơn La và Côn Đảo.
Năm 1936, ông được trả tự do, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Trung Kỳ. Năm 1937, làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ.
Năm 1939, ông được bầu vào Ban thường vụ Trung ương Đảng. Cuối năm 1939, tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6.
Năm 1940, bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn, bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ 2. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được đón về đất liền.
Năm 1946, ông được cử làm việc bên cạnh Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh.
Từ 1946 đến 1954, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (sau đổi thành Trung ương Cục miền Nam). Chức vụ chính quyền của ông chỉ là Trưởng phòng dân quân, trong Bộ Tư lệnh Nam Bộ do Nguyễn Bình làm Tư lệnh.
Năm 1951, tại Đại hội Đảng lần thứ II, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Năm 1952 ông ra Việt Bắc họp Trung ương và được Hồ Chí Minh giữ lại làm phụ tá đến đầu năm 1954.
Từ 1954 đến 1957, ông được phân công ở lại miền Nam lãnh đạo cách mạng miền Nam.
Cuối năm 1957, ông ra Hà Nội, vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, chủ trì công việc của Ban Bí thư và là Phó Ban chuẩn bị văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng.
Tháng 9/1960, tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.
Tại các Đại hội toàn quốc lần thứ IV (12/1976) và lần thứ V (3/1982), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư đến khi mất. Ông cũng đảm nhiệm chức Bí thư Quân ủy Trung ương từ năm 1978 đến năm 1984.
Từ Đại hội V do sức khỏe yếu, Trung ương Đảng giao bớt một số quyền của ông cho Trường Chinh.
Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII.
Ông được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương khác.
Ông qua đời ngày 10 tháng 7 năm 1986 tại Hà Nội.


Các nhà lãnh đạo, nhà khoa học nước ta, cũng như không ít chính khách, nhà văn hóa nước ngoài đã dùng những từ ngữ tốt đẹp nhất tôn vinh Lê Duẩn khi nói về ông.
Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn (1907-1986) là “người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, người cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội…” (Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 11/7/1986).
Tổng Bí thư Trường Chinh thấy ở vị tiền nhiệm của mình “người luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, mà sự sáng suốt nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp”(Điếu văn, ngày 15/7/1996).
Là một nhà báo, tôi xin dẫn lời hai bậc đàn anh đều từng là cộng sự gần gũi cố Tổng Bí thư, và nay đều đã lần lượt theo ông trở thành những người thiên cổ. Nhà báo Hoàng Tùng thấy ở cố Tổng Bí thư “một tầm cao trí tuệ, suốt đời say mê tìm tòi chân lý” (Hoàng Tùng, Lê Duẩn, một nhà lãnh đạo lối lạc, một tư duy sáng tạo lớn…(in chung), Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr. 239); nhà báo Trần Bạch Đằng trân trọng “Lê Duẩn là nhân vật mang tầm vóc lịch sử hiện đại, chỉ xếp sau Hồ Chí Minh” (Trần Bạch Đằng, sđd, tr. 688). Hầu như tất cả những ai thiện chí khi nói về Lê Duẩn đều gặp nhau ở một điểm: Đó là một danh nhân, và không riêng của nước Việt Nam.
Từ ngày cố Tổng Bí thư vĩnh biệt đồng bào, đồng chí về với Bác Hồ đến nay đã hơn một phần tư thế kỷ. Trong khoảng thời gian không quá ngắn ấy, có bao nhiêu công trình nghiên cứu, sáng tạo viết về ông hay lấy chủ đề từ đời ông xuất bản ở nước ta? Chắc nhiều nhà khoa học, trước hết là các vị ở Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, đã và đang miệt mài nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Lê Duẩn. Tuy nhiên, người đọc thấy có bao nhiêu công trình về Lê Duẩn, trước hết là tác phẩm phù hợp với số đông người đọc, trên các giá sách, tại các thư viện? Tìm đâu ra tác phẩm nghệ thuật về cuộc đời danh nhân khi cần tìm hiểu? Người dân có quyền đặt câu hỏi.
Để so sánh, tôi xin dẫn tư liệu nước ngoài. Trường hợp một người cùng thời với Lê Duẩn: tướng De Gaulle (1890-1970). Ông được người Pháp coi là một vĩ nhân. Trong Thế chiến thứ hai, ông có công cùng nhiều người, trước hết là các chiến sĩ cộng sản Pháp và quân đội Đồng Minh, giải phóng Pháp khỏi ách chiếm đóng của Đức, rồi cầm quyền không liên tục khoảng 20 năm, thì bị nhân dân chán và mời về vườn bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Sai lầm lớn nhất của ông là sau khi nước Pháp vừa giành lại được, đã vội vã phái quân sang Đông Dương, mưu đồ đặt lại ách đô hộ lên mấy nước này, dẫn tới sa lầy vào cuộc “chiên tranh bẩn thỉu” của họ ở Việt Nam và thảm bại ê chề. Kỷ niệm 15 năm ngày mất De Gaulle, nhà văn Jean Lacouture, tác giả nước ngoài đầu tiên có sách chuyên đề về Hồ Chí Minh khi Bác Hồ còn tại thế (1967), trình độc giả công trình ba tập dày tới 3000 trang sách của ông về thân thế và sự nghiệp ông tướng Pháp. Viện sĩ Hàn lâm Văn học Pierre Nora đọc xong, bình trên một tờ báo xuất bản tại Paris: “Sau 800 cuốn sách viết về De Gaulle, đây là cuốn số một”. 15 năm, tức 60 tháng, có 800 đầu sách về một con người!
Một phần tư thế kỷ, chúng ta có bao nhiêu tác phẩm về Lê Duẩn? Người dân có quyền đặt câu hỏi. Đã đành De Gaulle là người lãnh đạo một quốc gia dù sao cũng được tiếng là một trong bốn nước Đồng Minh đánh thắng phát xít. Vậy Việt Nam ta, nước làm Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước đánh thắng De Gaulle cùng mấy cường quốc, tác động của Việt Nam đối với phong trào độc lập dân tộc thế kỷ XX nào có kém ai?
Tôi không đủ tầm giải đáp câu hỏi. Tôi chỉ là một học trò, một đứa em nhỏ đồng hương, vinh dự được nhiều dịp nghe đồng chí Tổng Bí thư phát biểu, phục vụ một số chuyến ông đi công tác hoặc được ông gọi đến dặn dò việc nhỏ. Tôi vẫn nhận thức rõ điều nhiều người vẫn nói là tầm nhìn xa rộng và cái mới trong tư duy ông. Mỗi lần được nghe Tổng Bí thư nói chuyện, thế nào cũng học được điều mới mẻ.
Xưa nay, tầm nhìn là tính cách và đặc trưng nổi trội ở mọi vĩ nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta là một người như thế. Là học trò xuất sắc của Hồ Chủ tịch, Lê Duẩn có tầm nhìn sáng tỏ vào những bước chuyển hoặc giờ phút khó khăn của đất nước. Tầm nhìn Hồ Chí Minh trở thành tầm nhìn của Đảng. Tầm nhìn Lê Duẩn là tầm nhìn của Bộ Chính trị, của Trung ương, điều ấy nói lên vai trò người đứng đầu trong mối quan hệ cá nhân-tập thể lãnh đạo.
Ngay năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Côn Đảo về, đồng chí Lê Duẩn được Bác Hồ và Trung ương giao trọng trách Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Cùng một cán bộ và một tay chèo, nhà lãnh đạo “một chiếc xuồng con dập dềnh sóng nước” (thơ Lưu Trọng Lư) ngược xuôi các kênh rạch Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười… cùng Xứ ủy lãnh đạo kháng chiến. Vào những giờ phút khó khăn ấy, với tầm nhìn của mình, Anh Ba Duẩn, ngọn đèn pha deux-cents-bougies(bóng điện sáng nhất thời bấy giờ) qua thực tiễn chiến trường, báo cáo ra Trung ương tình hình Nam Bộ (Lê Duẩn,Báo cáo tình hình chung ở Nam Bộ (1948) - Người đầu tiên gọi Lê Duẩn “Anh Ba deux cents bougies” là nhà trí thức Phạm Ngọc Thuần, cách ví đó trở thành rất phổ biến ở Nam Bộ thời chống Pháp), các đặc điểm của cách mạng Việt Nam (Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam (1949)), trăn trở nghĩ suy để đóng góp ý kiến chuẩn bị văn kiện Trung ương trình Đại hội Đảng sắp tiến hành tại Việt Bắc. Ông nhận xét: “Chúng ta chưa hiểu hết nông dân…, chưa tận dụng hết khả năng để động viên nông dân vào cuộc kháng chiến cứu nước” (Một số ý kiến tham gia Đại hội Đảng lần thứ hai (1950). Nhiều ý kiến đề xuất của Lê Duẩn từ thực tiễn chiến trường, quan điểm của ông về vai trò của nông dân, của trí thức trong cách mạng dân tộc dân chủ, về một số chính sách lớn Đảng cần ban hành… chắc hẳn trùng hợp với suy nghĩ của Bác Hồ và nhiều đồng chí lãnh đạo hồi bấy giờ, được thể hiện tại văn kiện Đại hội II của Đảng (1951).
Tháng 7/1954, Hiệp định Geneve ký kết. Anh Ba đang ở Liên khu V. Bác Hồ điện vào: Chú nhanh chóng vào Nam Bộ để còn tập kết ra Bắc. Anh Ba xin Bác cho ở lại miền Nam để cùng đồng bào đấu tranh (Nguyễn Trung Tín, Lê Duẩn…, sđd, tr. 300). “Cuộc đời Anh vẫn là nơi tiền tuyến” (thơ Tố Hữu). Tại ngôi nhà nhỏ đường Lê Quang Định, Quận Bình Thạnh, hay căn gác hẹp phố Huỳnh Khương Ninh, Quận 1 Sài Gòn, trung tâm đầu não của đối phương, Anh Ba Lê Duẩn lại từ thực tiễn trăn trở nghĩ suy, viết Đề cương cách mạng miền Nam trình Trung ương. Anh được Bác Hồ và Bộ Chính trị mời ra Hà Nội cùng các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp bổ sung, hoàn chỉnh văn kiện trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, ra Nghị quyết 15 (1959), tạo bước ngoặt quyết định cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, tiến tới non sông liền một giải (Nguyễn Minh Triết, s đ d, tr. 202).  
Hiệp định Geneve quy định tạm thời phân đôi đất nước tại Quảng Trị quê Anh, và dự kiến sau hai năm sẽ tổng tuyển cử hòa bình thống nhất. Cán bộ, quân đội ta ở phía Nam tập kết ra Bắc. Đầu năm 1955, tiễn Anh Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) từ Nam Bộ xuống tàu ra Bắc, Anh Ba Duẩn nói: “Anh ra báo cáo với Bác Hồ và các anh trong Bộ Chính trị, 20 năm nữa, chúng ta sẽ gặp nhau”. Sau ngày toàn thắng, có người hỏi tại sao hồi ấy Anh Ba nói 20 năm, Anh Sáu giải thích: Bởi Anh Ba sớm thấy cách mạng miền Nam không tránh khỏi đối đầu với quân xâm lược Mỹ, và cuộc đụng độ lịch sử này sẽ vô cùng ác liệt trong thời gian dài (Đậu Ngọc Xuân, sđd, tr. 491).
Những ai có dịp đọc bản tập hợp một số thư, điện Tổng Bí thư Lê Duẩn gửi các đồng chí lãnh đạo Miền Nam từ đầu năm 1961 đến 30-4-1975, sẽ khó hết ngạc nhiên về tầm nhìn Lê Duẩn (Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, 1985). Vì khuôn khổ bài viết, nhất là do trình độ hạn chế, tôi không thể dẫn giải luận bình các văn kiện lịch sử ấy, vả chăng về mặt quân sự, quân đội ta đã có tổng kết, chỉ xin trích một câu của Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam gần như liên tục từ năm 1945 đến ngày toàn thắng: “Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, do Hồ Chủ tịch đứng đầu - sau khi Người qua đời do Tổng Bí thư Lê Duẩn kế tục -  thực sự là Bộ Thống soái kiệt xuất trong chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam” (Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, Nxb Quân đội nhân dân, 1985, tr. 321).
Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Đền Hùng (năm 1977)
Những ai có dịp gần cố Tổng Bí thư đều chung nhận xét: Ông đọc rất nhiều và luôn suy nghĩ. Ông đọc vào mọi dịp, đọc trong nhà tù, đọc khi đi nghỉ ở nước ngoài, đến lúc tuổi cao sức yếu vẫn say mê đọc. Trong điều kiện những năm 1980 trở về trước, chắc ít người tham khảo Bách khoa toàn thư của Pháp hay Kinh Coran của đạo Hồi để làm công tác như Lê Duẩn. Theo ông “để làm việc với các tín đồ đạo giáo, cần hiểu đúng tôn giáo của họ”. Ông đọc sách nhưng không nhất nhất tin mọi điều trong sách. “Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo” (Lênin), phải tìm chân lý từ thực tiễn đất nước mình, hơn nữa tư duy của mỗi người cũng cần phát triển chứ không phải một lần thuộc sách là đủ cho cả đời. Thời trẻ, bạn tù gọi ông là “người hay cãi sách”. Đến thăm trường Đảng, học viên là cán bộ trung, cao cấp đang nghiên cứu Lịch sử Đảng, trao đổi với anh em ở hành lang, Lê Duẩn hỏi: “Các đồng chí học lịch sử Đảng, vậy theo các đồng chí bài học gì của Đảng là đáng ghi nhớ nhất?”. Mỗi người trả lời một cách, ai cũng đúng. Ông cười: “Theo tôi, bài học lớn nhất của Đảng ta là phải độc lập suy nghĩ, giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thực tế của Việt Nam” (Tô Bửu Giám, Lê Duẩn…, sđd, tr. 599).
Những năm 1960, trong khi tại một số nơi trên trường quốc tế, có những người nhân danh văn hóa, lạm dụng hai từ cách mạng để hạ uy tín nhau qua báo chí hay hất cẳng nhau tại nghị trường, để hạ bệ nhau và lưu đày hãm hại nhau, thì tại Việt Nam Lê Duẩn phát biểu: “Cách mạng tư tưởng và văn hóa không dùng bạo lực, hành chính, mà dựa vào tự nguyện” (Nhiều tác giả, Về văn hóa, văn nghệ, Nxb Văn hóa, 1972., tr. 69). Và: “Để hiểu việc, con người dùng lý lẽ, lý trí, nhưng khi hành động phải có tình cảm… Cách mạng tư tưởng và văn hóa gắn tình cảm với lý trí. Nói nghệ thuật là nói quy luật riêng của tình cảm. Nghệ thuật vận dụng quy luật của tình cảm”, vv. và vv.
Đầu những năm 1980, Ban Tuyên huấn Trung ương tổ chức Hội nghị tập huấn tổng biên tập các báo địa phương. Tổng Bí thư đang bận, tranh thủ đến thăm anh em vào giờ nghỉ. Chuyện trò với các nhà báo quây quần, ông tươi cười: “Làm báo là làm công tác khoa học, đồng thời là làm nghệ thuật”. Anh em chúng tôi rất tâm đắc, liên hệ lời của Bác Hồ hôm Bác đến thăm và nói chuyện tại Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam tháng 4-1959: “Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương… Người đọc thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc” (Hồ Chí Minh Toàn tập, 1996, tập 9, tr. 417).
Trước những năm 1980, các thuật ngữ hội nhập, tiếp biến văn hóa, hỗn dung văn hóa… chưa phổ biến ở Việt Nam. Đồng chí Lê Duẩn không dùng các danh từ ấy, tuy nhiên cách nhìn thực tiễn của ông luôn quán triệt tinh thần khoa học. Có một số người cho rằng văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ văn hóa Nho giáo, cứ gặp một câu phong dao, tục ngữ lại nghĩ đến lời ai ai đó thời Tam hoàng Ngũ đế, Xuân Thu chiến quốc hay Hán, Đường, Tống, Minh… Theo Lê Duẩn, nông dân Việt Nam không chịu ảnh hưởng nặng nề của tam cương ngũ thường. Ca dao tục ngữ của ta là sản phẩm dân gian ta, cho dù một số có ngồn gốc Trung Hoa, Ấn Độ hay Âu Tây thì khi vào nước ta, chúng đã được văn hóa bản địa tiếp thu, nhào nặn, biến đổi cho nên lắm khi vẫn câu ấy chữ ấy song mang tinh thần, nội dung khác, phù hợp với nhu cầu, tính cách và phẩm hạnh người Việt Nam. Truyện Kiều kể chuyện bên Tàu, dùng nhiều điển tích Trung Hoa song là văn học Việt Nam. “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ tuy là khác giống nhưng chung một giàn…, lá lành đùm lá rách, một hạt khi đói bằng một gói khi no…, nhiễu điều phủ lấy giá gương/ người trong một nước phải thương nhau cùng, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh…”, những câu ấy là của người Việt Nam nói lên tính cách Việt Nam chứ không phải đến từ phương xa nào.
Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn mỗi lần phát biểu quan điểm của mình về văn hóa đều xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và yêu cầu cách mạng trong bối cảnh cụ thể, ông không làm học thuật. Chúng tôi nhiều lần được đi theo, phục vụ các chuyến công tác của Tổng Bí thư, chưa hề được nghe ông bàn chuyện nước ta có chế độ mẫu hệ, mẫu quyền hay không có. Thăm đền Hùng sau khi đất nước thống nhất, nhắc lại lời Bác Hồ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”, Tổng Bí thư nói với Bí thư tỉnh ủy và mấy vị lãnh đạo tỉnh Phú Thọ cùng đi: “Chúng ta nên suy nghĩ dựng tượng Hai Bà Trưng gần đâu đây, để đồng bào từ miền Nam ra, từ các nơi khác về viếng các Vua Hùng thấu hiểu công đức Hai Bà. Sau các Vua Hùng, những anh hùng đầu tiên lãnh đạo nhân dân ta chống ngoại xâm là hai phụ nữ”… Những lời phát biểu về văn hóa, tâm linh trong bối cảnh bang giao hồi bấy giờ (cuối những năm 1970) có ý nghĩa sâu xa, thể hiện tầm nhìn Lê Duẩn.
Thực tiễn vai trò phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước bác bỏ quan điểm Khổng Mạnh về nữ giới, đại thể như “phụ nhân nan hóa”, “con gái và tiểu nhân là những kẻ khó giáo dưỡng”, v.v… Vẫn về vai trò của phụ nữ trong kháng chiến, vào một dịp khác, ông phân tích: “Do hoàn cảnh kinh tế, phụ nữ Việt Nam ta xưa nay ai cũng dè sẻn trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng, đời người phụ nữ có gì quý hơn chồng con? Vậy mà các bà mẹ, người vợ Việt Nam ta khuyến khích, tạo điều kiện cho chồng con đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đứa con lớn không về, cho thằng nhỏ ra trận, mà cầm chắc tổn thất hy sinh. Còn gì anh hùng hơn, còn gì hào phóng hơn thế?”
Giáp Tết Quý Sửu 1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam có hiệu lực. Tổng Bí thư vào thẳng giới tuyến thăm hỏi đồng bào, chiến sĩ Vĩnh Linh, Quảng Trị, trong đó có nhiều người là bạn cũ hoặc cùng quê với ông từ phía Nam vừa ra. Chúng tôi được “ăn Tết” với Tổng Bí thư cùng một số cán bộ Quảng Trị nơi căn nhà hầm tránh bom B52 nửa nổi nửa chìm không xa bờ sông Bến Hải.  Hiệp định tuy đã ký, tình hình vùng giáp ranh vẫn phức tạp. Tiếng đại bác giao tranh từ Cửa Việt vẫn dữ dội vọng về. Anh em mời Tổng Bí thư ra Quảng Bình nghỉ đêm. Tại buổi gặp mặt đầu năm cán bộ Quảng Bình, có một số từ phía Nam sông Bến Hải mới ra, Tổng Bí thư nói chuyện gần như tâm tình. Ông ca ngợi công lao, cống hiến của bà con cô bác hai miền, chia sẻ những tổn thất hy sinh, rồi đề cập vấn đề tâm huyết nhất nơi ông là tình thương và lẽ phải, nghĩa tình Nam Bắc, mối quan hệ đồng bào với đồng bào trong cả nước. Xúc động và có ý nghĩa làm sao, trong không khí háo hức đón xuân đồng thời ngổn ngang trăm việc nơi dải đất quê hương bị đạn bom tàn phá không đâu khốc liệt bằng, giữa lúc không ít người bên này bên kia sông Hiền Lương ê chề đau đớn, dằn vặt, hận thù về những tổn thất, hy sinh do chiến tranh gây nên, và hầu như không mấy ai không băn khoăn trước cái giá còn phải trả ngay mai kia đây, khi chúng ta dốc toàn lực giành thắng lợi cuối cùng; đúng vào lúc các thế lực thù địch lu loa hù dọa về cái họ gọi là những cuộc “tắm máu” sẽ diễn ra một khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng kiểm soát toàn bộ miền Nam, thì người đứng đầu Đảng ta ôn tồn nhấn mạnh sự cần thiết người Việt Nam nén bớt nhận thù, đoàn kết nhau lại, thương yêu đùm bọc lấy nhau, cùng xóa đói giảm nghèo, cùng xây dựng quê hương trong hòa bình, thân ái…
Khó kể hết những câu chuyện về tầm nhìn Lê Duẩn, tầm nhìn của một vĩ nhân, chỉ xin dẫn thêm một câu của Viện Mác-Lênin tại “Lời giới thiệu” cuốn Lê Duẩn, Thư vào Nam (1985): “Đồng chí Lê Duẩn luôn luôn nhìn thấy những gì mà nhiều người chưa thấy”.
Đổi mới tư duy là yêu cầu thường trực, không có điểm ngừng, của cuộc sống. Phương châm ấy không phải mới có từ thời đổi mới, nó tồn tại từ trước trong tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Đại hội VI của Đảng, trước tình thế những năm 1980, nhấn mạnh đổi mới đất nước bắt đầu từ đổi mới tư duy. Cuộc sống đặt ra nhiều vấn đề không cho phép ta một mực đi theo lối mòn mà phải động não tư duy xuất phát từ thực tiễn đất nước, phù hợp với bối cảnh quốc tế. Đạo lý thánh hiền đậm tính nhân văn do đó trường tồn, tuy nhiên có nhiều cái khó tránh khỏi hạn chế mang tính thời đại. Mỗi danh ngôn ra đời trong bối cảnh cụ thể, hơn nữa có khi được tiền nhân nói ra trong thế động, người đời sau lại hiểu theo dạng tĩnh. “Tiên học lễ hậu học văn” chẳng hạn. Sao lại có chuyện sau trước ở đây? Trong văn có lễ, lễ xây trên văn. Tình yêu Tổ quốc, nghĩa vụ công dân, văn hóa ứng xử giữa người với người, người với cộng đồng… chẳng lẽ chỉ cần mang ra dạy trẻ thời các em cắp sách đến trường là đủ? Phát triển kinh tế, chăm chút tiện nghi, tăng cường an sinh xã hội, nâng cao học vấn…, lo chuyện giàu sang mà không gắn với truyền thống văn hiến Việt Nam phù hợp thời đại mới, thì làm sao tránh khỏi đạo đức xã hội xuống cấp dần thậm chí đi đến suy đồi?
Cuối tháng một vừa qua (2012), kết thúc Đại hội Đảng Cộng sản Cu Ba, Chủ tịch Raoul Castro phát biểu: “Chưa bao giờ có và sẽ không cao giờ có một cuộc cách mạng không mắc sai lầm bởi đó là thành quả của những con người, hơn nữa họ lần đầu tiên đối mặt những thách thức mới mẻ, lớn lao”.
Một ý tưởng không mới nhưng đáng suy ngẫm trong tình hình hiện nay, khi một số thế lực mưu đồ phủ nhận những hy sinh và thành tựu của nhân dân ta trong kháng chiến, làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng thế kỷ qua và nhất là ngày nay. Không cuộc cách mạng nào không có bước chệch, không đời vĩ nhân nào chẳng gợn bóng mây. Núi cao rực rỡ đến mấy cũng khó tránh có mảng tối. Cách mạng không ngừng tiến lên, mây không che khuất mặt trời. Cuộc đời danh nhân theo dòng chảy thời gian càng lùi về quá khứ càng tỏa  sáng.
Lịch sử đương đại có những góc khuất - hiểu theo nghĩa khoa học. Nguyên nhân là cách mạng trong bước đầu thường phải đối mặt những thế lực hùng mạnh hơn cả trăm, ngàn lần; cán bộ hoạt động bí mật trong xã hội đầy tráo trở, kẻ thù ngày đêm rình rập. Biết bao chiến công mãi mãi lặng thầm. Sự nghiệp Bác Hồ và không ít chí sĩ nước ta khởi đầu từ thập niên 10 thế kỷ trước, nhiều lãnh tụ trong đó có Tổng Bí thư Lê Duẩn hoạt động từ những năm 20, đến nay trên dưới trăm năm. Pháp luật mọi nước đều quy đình thời hạn giải mật các tư liệu mật - trừ một số rất ít liên quan đến quốc phòng, an ninh. Nhiều sự thật sẽ dần ra ánh sáng, làm sáng tỏ hơn công đức những người có công với nước với dân. Điều đó tạo thuận lợi cho việc sưu tầm, nghiên cứu, nghĩ suy. Hơn lúc nào hết, xã hội cần và mong các tài năng khoa học và tài năng sáng tạo hãy cho ra đời nhiều công trình, tác phẩm chân thiện mỹ, đậm tính nhân văn mà không cầu toàn về các danh nhân thời hiện đại để mọi người cùng hiểu thêm về một thời gian nan và oanh liệt của dân tộc, cùng rút ra những bài học bổ ích cho sự phát triển của đất nước hôm nay và ngày mai./.